Khoa học xã hội và nhân văn góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Khoa học xã hội và nhân văn góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

30/01/2026

Kết quả nghiên cứu của khoa học xã hội và nhân văn cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương pháp luật, chính sách xây dựng phát triển đất nước, quốc phòng và an ninh. Những lập luận khoa học còn giúp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, tạo niềm tin trong xã hội và sự đồng thuận của nhân dân.

Trưng bày “Dưới cờ Đảng quang vinh: Việt Nam 40 năm Đổi mới và khát vọng trong kỷ nguyên vươn mình” tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.

Trưng bày “Dưới cờ Đảng quang vinh: Việt Nam 40 năm Đổi mới và khát vọng trong kỷ nguyên vươn mình” tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.

Khoa học xã hội và nhân văn đóng vai trò trụ cột trong tư duy lý luận của Đảng ta suốt hành trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số hiện nay, nghiên cứu khoa học xã hội càng trở nên thiết yếu, vừa góp phần xây dựng đường lối phát triển đất nước vừa giúp nâng cao hiệu quả đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Điểm tựa về tư duy lý luận

Giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn Lợi, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam nhấn mạnh, về mặt lý luận, khoa học xã hội và nhân văn cung cấp nền tảng thế giới quan và phương pháp luận khoa học cho Đảng trong việc nhận thức các vấn đề thực tiễn. Các nghiên cứu lý luận đã làm rõ các vấn đề cơ bản về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, về xây dựng và chỉnh đốn Đảng, đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực cầm quyền và lãnh đạo của Đảng, về xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam… Đây là những công trình lý luận có giá trị cung cấp cơ sở khoa học vững chắc cho việc xây dựng, bổ sung, phát triển đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đặng Quang Định, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, tri thức khoa học xã hội và nhân văn giúp Đảng nhận diện chính xác quy luật khách quan của sự phát triển xã hội, như quy luật của quan hệ sản xuất, quy luật vận động của các hình thái kinh tế xã hội, quy luật hình thành và biến đổi của cơ cấu giai cấp, cũng như những quy luật tác động của văn hóa và con người trong sự phát triển lịch sử. Đây là cơ sở khoa học để Đảng kiên định con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Bên cạnh đó, khoa học xã hội và nhân văn hỗ trợ Đảng phân tích sâu sắc các vấn đề xã hội nảy sinh từ quá trình phát triển đất nước, nhận diện đúng nguyên nhân, bản chất và mức độ tác động của từng hiện tượng xã hội đối với đời sống. Nhờ đó, Đảng đánh giá đúng tình hình, tránh cực đoan trong nhận định, đồng thời nhìn thấy xu hướng vận động của xã hội trong tương lai.

Nhìn lại lịch sử 50 năm thống nhất đất nước, 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới đã qua, các nhà khoa học trong lĩnh vực xã hội và nhân văn đã thực hiện nhiều công trình nghiên cứu tổng kết có giá trị, nhằm làm rõ các vấn đề trọng đại của đất nước, bổ sung nhiều luận cứ vào hệ thống lý luận Đảng. Trong nhiệm kỳ vừa qua, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã đóng góp 331 báo cáo gửi các lãnh đạo các cơ quan Đảng và Nhà nước, góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách phát triển đất nước.

Xác định nhiệm vụ trọng tâm bảo vệ nền tảng tư tưởng

Trong kỷ nguyên số, việc nhận diện và đấu tranh với các quan điểm sai trái nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ngày càng trở nên khó khăn, phức tạp hơn, đòi hỏi cách thức tiếp cận khoa học và chủ động. Các kết quả nghiên cứu của khoa học xã hội và nhân văn giúp nhận diện chính xác các thủ đoạn xuyên tạc của các thế lực thù địch như cắt ghép thông tin, ngụy tạo lập luận, đánh tráo khái niệm hoặc lợi dụng các vấn đề xã hội để công kích…, giúp Đảng chủ động xây dựng các luận điểm phản bác, đấu tranh rõ ràng và thuyết phục.

Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Dũng, Chủ tịch Hội Tâm lý học Việt Nam cảnh báo về sự gia tăng mạnh mẽ của các hình thức chiến tranh nhận thức, chiến tranh thông tin và chiến tranh tâm lý mà các thế lực thù địch sử dụng nhằm chống phá cách mạng Việt Nam. Sự bùng nổ của các nền tảng mạng xã hội như Facebook, Youtube, TikTok… và sự phổ biến của trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra nhiều thách thức đối với an ninh tư tưởng và an ninh con người.

1-khoa-hoc-cong-nghe-2-7379.jpg

Trưng bày “Dưới cờ Đảng quang vinh: Việt Nam 40 năm Đổi mới và khát vọng trong kỷ nguyên vươn mình” tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.

Từ góc độ khoa học xã hội và nhân văn, chuyên gia khuyến nghị cần có những nghiên cứu liên ngành cấp thiết như: Tâm lý học giải thích cơ chế con người bị thao túng nhận thức và cảm xúc; Truyền thông học phân tích cách thông tin lan truyền trên mạng xã hội; Xã hội học xem xét sự biến đổi hệ giá trị, mối liên hệ giữa niềm tin, thái độ và hành vi chính trị; Khoa học dữ liệu xã hội cung cấp công cụ nhận dạng tin giả, mô hình hóa các chiến dịch thông tin thù địch; Triết học, Chính trị học cung cấp cơ sở lý luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Các kết quả nghiên cứu liên ngành sẽ là nền móng để xây dựng chiến lược bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, cũng như nâng cao năng lực “miễn dịch thông tin” cho người dân.

Tiến sĩ Đỗ Tất Cường, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải bắt nguồn từ sự củng cố và phát triển lý luận nội tại, thông qua việc không ngừng nghiên cứu và làm phong phú thêm kho tàng lý luận của Đảng. Cần triển khai các chương trình nghiên cứu lớn để khái quát tiến trình phát triển lý luận của thế giới và khu vực nhằm làm rõ sự tương đồng và khác biệt giữa hệ thống lý luận của Đảng ta với hệ thống lý luận của thế giới. Bằng cách khuyến khích sự tham gia của giới trí thức và các nhà khoa học, Đảng có thể xây dựng một hệ thống lý luận có khả năng tự vệ trước các trào lưu tư tưởng ngoại lai, từ chủ nghĩa cá nhân cực đoan đến các hình thái dân túy hậu hiện đại, từ đó nâng cao sức thuyết phục và sức hút của nền tảng tư tưởng chính thống.

Để chủ động trong đấu tranh, phòng ngừa, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cần một chiến lược phù hợp thực tiễn đất nước. Bên cạnh việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, cần chú trọng bồi dưỡng các nhà khoa học, cán bộ nghiên cứu với tinh thần phụng sự đất nước, nhân dân. Mỗi ngành khoa học xã hội và nhân văn cần thực hiện tốt vai trò bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng thông qua các kết quả nghiên cứu có giá trị thực tiễn.

Các kết quả nghiên cứu thuyết phục

Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (VASS), Giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn Lợi cho rằng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ sống còn của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ. Để hoàn thành tốt sứ mệnh đó, khoa học xã hội và nhân văn phải tăng cường hơn nữa sự gắn kết thường xuyên, chặt chẽ với khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ, tăng cường nghiên cứu liên ngành trong thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn và nhiệm vụ chính trị. Đồng thời, khoa học xã hội và nhân văn phải xuất phát từ các chuyên ngành của mình để thực hiện tốt sứ mệnh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ sống còn của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ.

Giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn Lợi,

Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (VASS)

Một trong những lĩnh vực mà các phần tử cực đoan, chống phá thường hướng đến là xuyên tạc lịch sử dân tộc Việt Nam. Bằng cách tạo dựng các thông tin sai lệch về lịch sử, các thế lực thù địch nhắm vào mục tiêu phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Nghiên cứu của các nhà khoa học Viện Sử học (VASS) đã chỉ ra các đặc điểm nổi bật nhất mà các thế lực thù địch thường xuyên tạc lịch sử bao gồm: Nhằm vào những vấn đề nhạy cảm, có giá trị biểu tượng tinh thần cao như ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, Đại thắng mùa Xuân 1975, chính sách với người có công...

Các thế lực thù địch cũng thường dựa vào những khoảng mờ, khoảng trống trong tài liệu lịch sử, hoặc trong nhận thức của quần chúng nhân dân để đưa ra những nhận định, kết luận sai trái; diễn giải lịch sử theo cảm xúc với mưu đồ chính trị nhằm thao túng tâm lý của một bộ phận người dân thiếu hiểu biết; sử dụng công nghệ tạo ra các video ngắn được tối giản hóa, dễ lan truyền, tạo ảo giác “dư luận đông đảo” khiến thông tin sai lệch lấn át thông tin chuẩn mực.

Theo Tiến sĩ Lê Quang Chắn, Viện Sử học, ngành sử học đã và đang thực hiện tốt vai trò của mình với nhiều công trình nghiên cứu, cung cấp các cơ sở khoa học thông qua những minh chứng từ luận cứ khoa học gốc, từ đó vạch trần những luận điệu sai trái của các thế lực thù địch. Phương thức đấu tranh, phản bác của giới sử học có sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả các liên ngành khảo cổ học, nhân học, văn hóa, Hán Nôm… tạo ra những chứng cứ không thể phủ nhận, làm sáng tỏ các vấn đề lịch sử còn nhiều tranh luận. Nhiều nhà sử học đã trực tiếp, chủ động lên tiếng, công bố các kết quả nghiên cứu tại các diễn đàn khoa học, tạp chí chuyên ngành và phương tiện truyền thông.

Tại Hội thảo “Khoa học xã hội và nhân văn với sứ mệnh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên mới”, các chuyên gia thống nhất nhận định, kết quả nghiên cứu của các ngành khoa học xã hội và nhân văn đã đóng góp tích cực trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Một lĩnh vực quan trọng khác là văn hóa học. Nghiên cứu của các nhà khoa học đã chỉ ra luận điệu phổ biến của các thế lực phản động về văn hóa là tuyên truyền Việt Nam có xu hướng đồng nhất văn hóa theo hướng lấy văn hóa người Việt làm trung tâm, coi nhẹ văn hóa các dân tộc thiểu số. Chúng sử dụng thông tin cắt ghép, bóp méo, cực đoan hóa các vấn đề văn hóa-đạo đức, gây tranh cãi, xung đột nhận thức, làm giảm niềm tin và sự đồng thuận xã hội.

Một số nội dung mang yếu tố kích động, giật gân, thiếu kiểm chứng góp phần làm xói mòn giá trị thẩm mỹ và chuẩn mực văn hóa cộng đồng, tạo tâm lý hoài nghi về đường lối lãnh đạo của Đảng, dẫn đến nguy cơ suy giảm niềm tin vào chế độ, vào giá trị dân tộc, ảnh hưởng đến ổn định chính trị…

Tại Hội thảo “Khoa học xã hội và nhân văn với sứ mệnh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên mới”, các chuyên gia thống nhất nhận định, kết quả nghiên cứu của các ngành khoa học xã hội và nhân văn đã đóng góp tích cực trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Đào tạo nhân lực khoa học và chiến lược truyền thông

Bằng các nghiên cứu tâm huyết, trách nhiệm, các nhà khoa học xã hội và nhân văn đang sử dụng lý luận khoa học để phản bác các luận điểm sai trái của thế lực thù địch một cách triệt để và thuyết phục; đồng thời tích cực tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ đảng viên. Tuy nhiên, trước yêu cầu của tình hình mới, việc đào tạo nguồn nhân lực khoa học và công tác truyền thông trong lĩnh vực bảo vệ nền tảng tư tưởng cần được nâng cao hơn nữa.

Tiến sĩ Đỗ Tất Cường, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng, các kết quả nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn phải được chuyển thành giáo trình đại học, tài liệu bồi dưỡng cán bộ, phim tài liệu khoa học phổ thông, sách phổ biến kiến thức và các sản phẩm truyền thông đa phương tiện có sức lan tỏa mạnh trên không gian số.

Cần hình thành các nhóm nghiên cứu chính sách (think-tank) có khả năng tư vấn trực tiếp cho các cơ quan lãnh đạo của Đảng và Nhà nước trong việc xây dựng chiến lược bảo vệ nền tảng tư tưởng. Có chế độ đãi ngộ, đầu tư và tổ chức phù hợp với tính chất mặt trận tiên phong của lĩnh vực này, xây dựng đội ngũ nhà khoa học trẻ có bản lĩnh chính trị, trình độ quốc tế và khả năng tác chiến trên không gian tư tưởng toàn cầu.

Cần tăng cường truyền thông chủ động, hiện đại hóa ngôn ngữ truyền thông. Phải chuyển từ truyền thông “đính chính thụ động” sang dẫn dắt dư luận bằng thông tin nhanh, chính xác, hấp dẫn.

Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Dũng, Hội Tâm lý học Việt Nam

Thực tế cho thấy, muốn đấu tranh có hiệu quả trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, không thể bỏ qua vai trò của công tác truyền thông, nhất là truyền thông số trong giai đoạn hiện nay. Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Dũng, Hội Tâm lý học Việt Nam kiến nghị, cần tăng cường truyền thông chủ động, hiện đại hóa ngôn ngữ truyền thông. Phải chuyển từ truyền thông “đính chính thụ động” sang dẫn dắt dư luận bằng thông tin nhanh, chính xác, hấp dẫn.

Cần đầu tư mạnh vào sản xuất video ngắn, infographic, podcast bằng công nghệ AI. Cần thiết lập trung tâm phân tích dư luận để nhận diện thông tin độc hại theo thời gian thực. Trung tâm này cần sử dụng công nghệ bigdata và machine learning để phát hiện các chiến dịch tấn công, từ đó đưa ra cảnh báo sớm. Ngoài ra, cần phát triển các nền tảng số “make in Vietnam”. Việc tự chủ về nền tảng giúp Việt Nam hạn chế phụ thuộc thuật toán nước ngoài và chủ động quản lý nội dung, giúp đạt kết quả cao trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Tags:
tin cùng chuyên mục