NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO MUỐI TẮM TRÀ XANH VÀ ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ CHỈ TIÊU CHẤT LƯỢNG Ở QUY MÔ PHÒNG THÍ NGHIỆM

DOI: https://doi.org/10.58902/nckhpt.e-v2i2.332

16/10/2026 / Lượt xem : 11
Chia sẻ:
Share Facebook Share LinkedIn Copy link
Hoàng Việt Phương
Trường Đại học Thành Đô
Vũ Kim Chi
Trường Đại học Thành Đô
Nguyễn Thi Phương Dung
Trường Đại học Thành Đô
Nguyễn Văn Hùng
Trường Đại học Thành Đô
Nguyễn Hồng Chuyên
Trường Đại học Thành Đô
PDF
Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục đích tìm ra công thức chế tạo muối tắm trà xanh có pH phù hợp với da, độ ẩm thấp, khả năng hòa tan nhanh, cảm quan tốt và đánh giá một số chỉ tiêu chất lượng ở quy mô phòng thí nghiệm. Công thức muối tắm trà xanh được xây dựng với sự kết hợp của các thành phần: muối sodium chloride (44%), muối Epsom (44%), dịch chiết trà xanh (2%), bột trà xanh (1%), tween 80 (6%), dầu dừa (2%), vitamin E (0,5%), tinh dầu trà xanh và tinh dầu chanh (tỉ lệ 1:1, 0,5%). Kết quả cho thấy sản phẩm có cảm quan khô ráo, không bết dính, màu xanh nhạt và mùi thơm nhẹ. Dung dịch muối tắm 5% có pH 5,55 ± 0,01, nằm trong khoảng pH sinh lý của da (4,5 – 6,5); độ ẩm đạt 1,2 ± 0,1%, cho thấy sản phẩm có đặc tính khô phù hợp và hạn chế nguy cơ vón cục trong bảo quản; thời gian hòa tan hoàn toàn là 17 ± 1 giây, ngắn hơn so với mẫu muối tắm thương mại. Các thông số giới hạn kim loại nặng (As, Hg, Pb) đáp ứng theo Hiệp định mỹ phẩm ASEAN (ASEAN Cosmetic Directive), chỉ tiêu các vi sinh vật (Candida albicans, Pseudomonas aeruginosa, Staphylococcus aureus) đáp ứng TCVN 13636:2023, TCVN 13639:2023, TCVN 13640:2023. Kết quả nghiên cứu cho thấy công thức muối tắm trà xanh có các đặc tính lý hóa, chỉ tiêu an toàn bước đầu phù hợp, là cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo về độ ổn định, hiệu quả trên da và khả năng phát triển sản phẩm ở quy mô lớn hơn.
Từ khóa: An toàn mỹ phẩm; An toàn vi sinh; Đánh giá chất lượng; Kim loại nặng; Muối tắm trà xanh; Mỹ phẩm thiên nhiên.
Tài liệu tham khảo

 

Gianeti, M. D., Mercurio, D. G., & Maia Campos, P. M. B. G. (2013). The use of green tea extract in cosmetic formulations: not only an antioxidant active ingredient. Dermatologic Therapy, 26(3), 267–271. https://doi.org/10.1111/j.1529-8019.2013.01552.x

Koch, W., Zagórska, J., Marzec, Z., & Kukula-Koch, W. (2019). Applications of Tea (Camellia sinensis) and Its Active Constituents in Cosmetics. Molecules, 24(23), 4277. https://doi.org/10.3390/molecules24234277.

Lukić, M., & Krajišnik, D. (2024). Challenges and advances in waterless cosmetic product development: Raising awareness of water sustainability. Arhiv Za Farmaciju, 74(6), 735–757. https://doi.org/10.5937/arhfarm74-52750.

Minh, T. V. (2015). Khao sat kha nang chong oxy hoa cua polyphenol trong la tra xanh Viet Nam. Tap chi Khoa hoc va Cong nghe, 53(2), 45–50.

Mita, S. R., Husni, P., Putriana, N. A., Maharani, R., Hendrawan, R. P., & Dewi, D. A. (2024). A Recent Update on the Potential Use of Catechins in Cosmeceuticals. Cosmetics, 11(1), 23. https://doi.org/10.3390/cosmetics11010023.

Niki, E. (2014). Role of vitamin E as a lipid-soluble peroxyl radical scavenger: in vitro and in vivo evidence. Free Radical Biology and Medicine, 66(8), 3–12. DOI: 10.1016/j.freeradbiomed.2013.03.022.

Nusrat, N., Ahmad Zahra, M., Ahmed, A., & Haque, F. (2023). Assessment of potential pathogenic bacterial load and multidrug resistance in locally manufactured cosmetics commonly used in Dhaka metropolis. Scientific Reports, 13(1), 7787. https://doi.org/10.1038/s41598-023-34782-9.

Proksch, E., Nissen, H.-P., Bremgartner, M., & Urquhart, C. (2005). Bathing in a magnesium-rich Dead Sea salt solution improves skin barrier function, enhances skin hydration, and reduces inflammation in atopic dry skin. International Journal of Dermatology, 44(2), 151–157. https://doi.org/10.1111/j.1365-4632.2005.02079.x.

Rico, F., Mazabel, A., Egurrola, G., Pulido, J., Barrios, N., Marquez, R., & García, J. (2023). Meta-Analysis and Analytical Methods in Cosmetics Formulation: A Review. Cosmetics, 11(1), 1. https://doi.org/10.3390/cosmetics11010001.

Sykuła, A., Janiak-Włodarczyk, I., & Kapusta, I. T. (2025). Formulation and Evaluation of the Antioxidant Activity of an Emulsion Containing a Commercial Green Tea Extract. Molecules, 30(1), 197. https://doi.org/10.3390/molecules30010197.

Quan, V. V., Tan, S. P., Stathopoulos, C. E., & Roach, P. D. (2012). Improved extraction of green tea components from teabags using the microwave oven. Journal of Food Composition and Analysis, 27(1), 95–101. https://doi.org/10.1016/j.jfca.2012.06.001.

Yadav, D., Suri, S., Choudhary, A. A., Sikender, M., Hemant, Beg, M. N., Garg, V., Ahmad, A., & Asif, M. (2011). Novel approach: Herbal remedies and natural products in pharmaceutical science as nano drug delivery systems. International Journal of Pharmacy & Technology, 3(3), 3092–3116.

Zheng, X.-Q., Zhang, X.-H., Gao, H.-Q., Huang, L.-Y., Ye, J.-J., Ye, J.-H., Lu, J.-L., Ma, S.-C., & Liang, Y.-R. (2024). Green Tea Catechins and Skin Health. Antioxidants, 13(12), 1506. https://doi.org/10.3390/antiox13121506.

Zokti, J., Sham Baharin, B., Mohammed, A., & Abas, F. (2016). Green Tea Leaves Extract: Microencapsulation, Physicochemical and Storage Stability Study. Molecules, 21(8), 940. https://doi.org/10.3390/molecules21080940.

Các bài báo được đọc nhiều nhất của cùng tác giả